Giảm mức đóng BHTN – Chính sách, đối tượng và cách thực hiện chi tiết

Trong bối cảnh Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp dư thừa lớn, Chính phủ đã nhiều lần ban hành chính sách giảm mức đóng BHTN nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động vượt qua giai đoạn khó khăn. Việc nắm rõ quy định giảm đóng bảo hiểm thất nghiệp (Unemployment Insurance) giúp cả người sử dụng lao động lẫn người lao động chủ động trong kế hoạch tài chính và tuân thủ pháp luật.

Tóm tắt chính sách giảm đóng BHTN

– Mức đóng BHTN tiêu chuẩn: người lao động 1%, người sử dụng lao động 1%, Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương.

– Chính phủ từng giảm đóng BHTN phía NSDLĐ từ 1% xuống 0% trong 12 tháng theo Nghị quyết 116/NQ-CP năm 2021.

– Quỹ BHTN do BHXH Việt Nam quản lý, kết dư hàng năm là cơ sở để xem xét điều chỉnh mức đóng.

– Người lao động vẫn được hưởng đầy đủ quyền lợi BHTN dù doanh nghiệp được giảm đóng.

1. Mức đóng BHTN tiêu chuẩn theo Luật Việc làm 2013

Theo Điều 57 Luật Việc làm 2013 (Luật số 38/2013/QH13), mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được phân chia giữa ba bên gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Cụ thể, người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng, người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia BHTN, và Nhà nước hỗ trợ tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN. Mức tiền lương làm căn cứ đóng BHTN không vượt quá 20 lần mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm đóng.

Nghị định 28/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật Việc làm quy định rằng tiền lương tháng đóng BHTN là tiền lương ghi trong hợp đồng lao động, bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung xác định được. Đối với khu vực hưởng lương từ ngân sách nhà nước, tiền lương đóng BHTN gồm hệ số lương nhân mức lương cơ sở cộng phụ cấp chức vụ và phụ cấp thâm niên (nếu có).

Bên đóng Tỷ lệ đóng Căn cứ pháp lý
Người lao động (NLĐ) 1% tiền lương tháng Điều 57 Luật Việc làm 2013
Người sử dụng lao động (NSDLĐ) 1% quỹ tiền lương tháng Điều 57 Luật Việc làm 2013
Nhà nước Hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương Điều 57 Luật Việc làm 2013

Trong thực tế, tổng tỷ lệ đóng BHTN là 2% trên quỹ lương, thấp hơn đáng kể so với mức đóng BHXH bắt buộc (25,5%). Chính vì tỷ lệ đóng thấp nhưng số lượng người tham gia lớn, Quỹ BHTN tích lũy kết dư cao qua nhiều năm, tạo dư địa để Chính phủ xem xét các chính sách giảm mức đóng khi cần thiết.

2. Chính sách giảm đóng BHTN cho người sử dụng lao động

Ngày 24 tháng 9 năm 2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết 116/NQ-CP về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ BHTN. Theo đó, người sử dụng lao động được giảm mức đóng BHTN từ 1% xuống 0% trên quỹ tiền lương tháng trong thời gian 12 tháng, tính từ ngày 01/10/2021 đến hết ngày 30/9/2022.

Nếu bạn đang tìm kiếm cơ hội 7Mb66 Xóc Đĩa mới trong lĩnh vực quản lý nhân sự, chế độ bảo hiểm hoặc tiền lương, hãy tham khảo các vị trí tại chuyên mục 7Mb66 Xóc Đĩa nhân sự để hình dung rõ hơn nhu cầu Mp66 Win hiện tại.

Điều kiện để doanh nghiệp được giảm đóng BHTN theo Nghị quyết 116 bao gồm:

– Doanh nghiệp đang tham gia đóng BHTN tại thời điểm ngày 01/10/2021 và không có nợ BHTN quá hạn.

– Doanh nghiệp không cần nộp hồ sơ đề nghị — cơ quan BHXH tự động áp dụng mức đóng 0% cho phía NSDLĐ.

– Phần chênh lệch do giảm đóng không hoàn trả bằng tiền mặt cho doanh nghiệp mà giữ lại trong Quỹ BHTN.

Bên cạnh Nghị quyết 116, Quyết định 28/2021/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 quy định về việc hỗ trợ trực tiếp cho người lao động đang tham gia BHTN, với mức hỗ trợ từ 1,8 triệu đồng đến 3,3 triệu đồng tùy theo thời gian đóng BHTN. Đây là chính sách song song nhằm vừa giảm gánh nặng cho doanh nghiệp, vừa hỗ trợ trực tiếp cho người lao động.

Lưu ý quan trọng: Chính sách giảm đóng BHTN theo Nghị quyết 116/NQ-CP đã hết hiệu lực từ ngày 30/9/2022. Từ tháng 10/2022 trở đi, mức đóng BHTN trở lại bình thường là 1% cho cả NLĐ và NSDLĐ. Doanh nghiệp cần cập nhật mức đóng trên phần mềm kê khai BHXH để tránh sai lệch.

3. Đối tượng được giảm và không phải đóng BHTN

Không phải mọi người lao động đều phải đóng BHTN. Theo Điều 43 Luật Việc làm 2013 và Nghị định 28/2015/NĐ-CP, đối tượng tham gia BHTN bắt buộc là người lao động có hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ đủ 3 tháng trở lên, làm việc tại đơn vị sử dụng lao động có từ 1 người lao động trở lên. Ngược lại, một số trường hợp không phải đóng hoặc được tạm dừng đóng BHTN.

Người lao động thuộc diện không phải đóng BHTN gồm những trường hợp cụ thể sau:

– Người lao động đang hưởng lương hưu theo quy định của Luật BHXH, bao gồm cả lương hưu từ quỹ BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.

– Người giúp việc gia đình theo quy định tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP không thuộc diện tham gia BHTN.

– Người lao động trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày trở lên trong tháng được tạm dừng đóng BHTN cho tháng đó.

– Người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng cũng được tạm dừng đóng.

Khi xác định đối tượng, cán bộ nhân sự (Human Resources) cần đối chiếu với Điều 43 Luật Việc làm 2013 kết hợp Thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH để áp dụng chính xác. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện dành cho người lao động tự do, có thể tham khảo bài viết mức đóng BHXH tự nguyện để so sánh với mức đóng BHTN bắt buộc. Việc kê khai sai đối tượng có thể dẫn đến truy thu hoặc xử phạt hành chính theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

4. Cách tính mức đóng BHTN khi được giảm

Khi chính sách giảm đóng BHTN có hiệu lực, cách tính mức đóng thay đổi tương ứng với tỷ lệ mới. Dưới đây là ví dụ minh họa cụ thể cho trường hợp doanh nghiệp được giảm đóng theo Nghị quyết 116/NQ-CP.

Giả sử doanh nghiệp có 50 người lao động tham gia BHTN, quỹ tiền lương tháng là 500 triệu đồng. Trong điều kiện bình thường, doanh nghiệp đóng 1% × 500 triệu = 5 triệu đồng/tháng cho BHTN. Khi được giảm xuống 0%, doanh nghiệp tiết kiệm 5 triệu đồng/tháng, tương đương 60 triệu đồng trong 12 tháng áp dụng. Phía người lao động vẫn đóng 1% tiền lương cá nhân, không thay đổi.

Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, chính sách giảm đóng BHTN theo Nghị quyết 116 đã hỗ trợ hơn 346.000 đơn vị sử dụng lao động, giảm tổng số tiền đóng khoảng 8.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2021–2022.

Đối với người lao động cá nhân, mức đóng BHTN hàng tháng được tính theo công thức:

– Mức đóng BHTN = 1% × Tiền lương tháng đóng BHTN

Ví dụ, NLĐ có mức lương ghi trên hợp đồng là 15 triệu đồng/tháng thì đóng BHTN = 1% × 15.000.000 = 150.000 đồng/tháng. Nếu lương ghi trên hợp đồng vượt quá 20 lần mức lương tối thiểu vùng, phần vượt sẽ không tính vào tiền lương đóng BHTN.

Mẹo kiểm tra: Người lao động có thể tra cứu mức đóng BHTN hàng tháng của mình trên ứng dụng VssID do BHXH Việt Nam phát triển. Ứng dụng hiển thị chi tiết quá trình đóng BHXH, BHYT và BHTN theo từng tháng, giúp bạn phát hiện sớm nếu doanh nghiệp đóng thiếu hoặc chậm đóng.

5. Triển vọng điều chỉnh mức đóng BHTN trong tương lai

Quỹ BHTN liên tục có kết dư lớn qua các năm. Theo số liệu từ BHXH Việt Nam, tính đến cuối năm 2023, Quỹ BHTN kết dư lũy kế hơn 62.000 tỷ đồng, trong khi tổng chi hàng năm chỉ khoảng 15.000–18.000 tỷ đồng. Mức kết dư cao cho thấy quỹ đang thu nhiều hơn chi, mở ra khả năng Chính phủ tiếp tục xem xét giảm mức đóng hoặc mở rộng quyền lợi hưởng BHTN trong tương lai.

Luật Việc làm (sửa đổi) đang được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội dự thảo và dự kiến trình Quốc hội. Một số điểm đáng chú ý trong các phiên thảo luận bao gồm việc mở rộng đối tượng tham gia BHTN sang nhóm lao động có hợp đồng dưới 3 tháng, điều chỉnh linh hoạt tỷ lệ đóng tùy theo tình hình quỹ, và bổ sung quyền lợi đào tạo nghề cho người hưởng BHTN. Tuy nhiên, các điều chỉnh chính thức cần đợi Quốc hội thông qua và có văn bản hướng dẫn cụ thể.

Trong bối cảnh thị trường lao động biến động, việc hiểu rõ mức đóng và chính sách giảm đóng bảo hiểm thất nghiệp giúp cả doanh nghiệp lẫn NLĐ lập kế hoạch tài chính phù hợp. Doanh nghiệp nên theo dõi các nghị quyết và nghị định mới từ Chính phủ, đồng thời phối hợp với cơ quan BHXH địa phương để cập nhật kịp thời khi có thay đổi.

1. Giảm mức đóng BHTN áp dụng cho đối tượng nào?

Chính sách giảm đóng BHTN theo Nghị quyết 116/NQ-CP áp dụng cho người sử dụng lao động đang tham gia BHTN, không nợ đóng quá hạn. Người lao động vẫn đóng 1% bình thường và được hưởng đầy đủ quyền lợi BHTN.

2. Khi nào mức đóng BHTN có thể được giảm tiếp?

Mức đóng BHTN có thể được điều chỉnh khi Quỹ BHTN kết dư cao hoặc trong các tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai. Quyết định giảm đóng do Chính phủ ban hành bằng nghị quyết hoặc nghị định, thường có thời hạn áp dụng cụ thể.

3. Người lao động có bị ảnh hưởng quyền lợi khi doanh nghiệp được giảm đóng BHTN?

Không. Dù doanh nghiệp được giảm mức đóng phía NSDLĐ, người lao động vẫn được hưởng đầy đủ các chế độ BHTN gồm trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề và tư vấn giới thiệu 7Mb66 Xóc Đĩa theo quy định tại Điều 42 Luật Việc làm 2013.

Kết luận

Chính sách giảm mức đóng BHTN là công cụ quan trọng giúp Chính phủ hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động trong những giai đoạn kinh tế khó khăn, đồng thời tận dụng nguồn kết dư lớn của Quỹ BHTN. Người lao động và doanh nghiệp cần thường xuyên cập nhật các nghị quyết, nghị định từ Chính phủ để nắm bắt kịp thời khi có chính sách giảm đóng mới, qua đó tối ưu chi phí và bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

Bài viết mang tính chất tham khảo dựa trên Luật Việc làm 2013, Nghị định 28/2015/NĐ-CP và Nghị quyết 116/NQ-CP. Quy định có thể thay đổi theo thời gian — bạn đọc nên đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành hoặc liên hệ cơ quan BHXH nơi tham gia để được tư vấn cụ thể.

Minh An

Sao chép thành công